Đơn vị Đào tạo liên tục Nội soi và Phẫu thuật nội soi Niệu bệnh viện Bình Dân xin trân trọng thông báo chiêu sinh khóa 4 về các nội dung đào tạo phẫu thuật nội soi Tiết niệu:
Chương trình Hội nghị Tiết niệu Thận học Việt nam tháng 11/2010 tại Hải Phòng xin được thông báo đến toàn thể Hội viên, Quý đồng nghiệp để tiện theo dõi
Mục tiêu: Báo cáo và đánh giá tính khả thi và độ an toàn của phẫu thuật nội soi ổ bụng một vết mổ (LaparoEndoscopic Single-Site, LESS) cắt một phần thận cho bướu ác chủ mô thận (RCC) qua một trường hợp đầu tiên thực hiện tại khu Kỹ thuật cao bệnh viện Bình Dân
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Trình bày một trường hợp cắt một phần thận qua nội soi ổ bụng một vết mổ cho bướu RCC nhỏ, lồi ra ngoài ở mặt trước thận phải.Bệnh nhân nằm ở tư thế mổ thận biến đổi.Rạch da đường vòng cung ở rốn, đặt một trocar 10mm Storz® ở rốn cho máy soi và 2 trocar ở quanh rốn (một 10mm và một 5mm) cho dụng cụ. Cắt một phần thận qua nội soi ổ bụng chỉ dùng các dụng cụ nội soi tiêu chuẩn, không kẹp cuống thận. Kết thúc phẫu thuật các trocar được rút ra và hai trong ba lỗ trocar được nối với nhau để lôi bệnh phẩm ra ngoài, lỗ trocar kia để đặt ống dẫn lưu. Bệnh nhân được đánh giá và dữ liệu thu thập trong và sau cuộc mổ.
Lymphôm nguyên phát ngoài hạch thường gặp ở đường tiêu hóa; dạ dày và ruột non là vị trí thường gặp nhất. Đau bụng và sụt cân trong thời gian dài là triệu chứng thường gặp. Đa số bệnh nhân được phẫu thuật ở giai đoạn muộn. Chẩn đoán xác định trước mổ còn khó khăn. Trong nước chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh này.
Mục tiêu nghiên cứu nhằm nêu kinh nghiệm bước đầu trong chẩn đoán và xử trí lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa.
Sau khi hồi cứu 4 trường hợp lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa ngoài hạch được điều trị tại khoa tiêu hóa bệnh viện Bình Dân trong 9 tháng đầu năm 2009 chúng tôi ghi nhận.
Đặt vấn đề: Ung thư tuyến tiền liệt là ung thư thường gặp đứng hàng thứ 2 ở Nam Giới. Tuy nhiên, việc tầm soát ung thư TLT và khảo sát các đặc điểm của bệnh vẫn chưa được thực hiện tại Việt Nam. Nghiên cứu của chúng tôi mô tả kết quả bước đầu của chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt tại bệnh viện Bình Dân, Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Thông qua các phương tiện truyền thông và bảng thông báo, chúng tôi chọn mẫu vào là các trường hợp tự nguyện đến tham gia chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt tại bệnh viện Bình Dân. Lứa tuổi lựa chọn là nam giới từ 50 tuổi trở lên. Các phương tiện tầm soát bao gồm: thông tin về dịch tễ, bệnh sử, khám trực tràng, siêm âm bụng, xét nghiệm PSA/máu, tỉ lệ PSA tự do/toàn bộ, siêu âm trực tràng và kết quả sinh thiết tiền liệt tuyến.
Ung thư tiền liệt tuyến (KTLT) thường gặp ở nam giới trên 50 tuổi. Để chẩn đoán sớm KTLT, người ta sinh thiết TLT dưới hướng dẫn của siêu âm qua ngã trực tràng.
Phương pháp nghiên cứu: Những bệnh nhân nghi ngờ KTLT qua xét nghiệm máu kháng nguyên đặc hiệu TLT (PSA) cao hơn ngưỡng 4ng/ml hoặc thăm khám TLT bằng ngón tay qua ngã trực tràng (DRE) thấy bất thường sẽ được chỉ định sinh thiết TLT.
Tắc mật ngoài gan là hội chứng thường gặp do nhiều nguyên nhân khác nhau. Sự tắc nghẽn này có thể xảy ra bất kỳ trong 3 mức: Ống mật chủ đoạn trong tuỵ, trên tuỵ, cửa gan. Mục đích nghiên cứu nhằm khảo sát nguyên nhân và vị trí tắc mật ngoài gan qua hình ảnh Siêu âm, CT, ERCP.
Khoa Tổng quát 3 (Bướu cổ - Lồng ngực - Mạch máu) Bệnh viện Bình Dân vừa có bài nghiên cứu về vấn đề này với những ưu điểm được trình bày vào buổi sinh hoạt chuyên môn chiều thứ hai 24.05.2010:
Chiều thứ hai, 19.04.2010, Bệnh viện Bình Dân đã tiến hành sơ kết chương trình triển khai phẫu thuật nội soi ổ bụng với chỉ một vết mổ trên các phẫu thuật thường gặp trong Niệu khoa và Ngoại Tổng quát. Các đề tài được triển khai bởi 6 nhóm được phân công kỹ lưỡng trong việc lựa chọn bệnh nhân có tiêu chuẩn phù hợp, chỉ định đúng, dụng cụ nội soi thích hợp.
Mục đích: Tính độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm trong chẩn đoán ung thư trên bướu giáp đa nhân.
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu bệnh chứng hồi cứu dựa trên giải phẫu bệnh sau mổ, chọn ngẫu nhiên 2 nhóm bướu giáp đa nhân lành và ác tính trong thời gian từ 2003 đến 2008 tại BV ĐHYD TPHCM.
Mục đích: Đánh giá kết quả bước đầu ứng dụng phương pháp can thiệp nội mạch trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý niệu khoa, thực hiện tại Bệnh viện Bình Dân từ 5/2008 đến 9/2009.
Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân được tiến hành theo một trình tự nhất định: Nằm ngửa, tiền mê nhẹ, đặt catheter qua động mạch đùi phải theo phương pháp Seldinger khảo sát DSA (X quang mạch máu kỹ thuật số xóa nền). Nếu có chỉ định can thiệp chúng tôi dùng vật liệu thuyên tắc là ethanol tuyệt đối, spongel tán nhuyễn, keo sinh học hoặc stent tùy vào thương tổn cần điều trị.
Mổ nội soi với chỉ một lỗ vào ổ bụng(single port access (SPA) surgery, single incision laparoscopic surgery - SILS, one port umbilical surgery - OPUS, single port incisionless conventional equipment utilizing surgery - SPICES, laparo - endoscopic single site - LESS) là một phương pháp mới cho phép bác sỹ phẫu thuật vào ổ bụng qua một lỗ duy nhất, đặc biệt là qua rốn. Phương pháp này cũng giống như nhiều phương pháp mổ nội soi khác, bệnh nhân được phẫu thuật dưới sự gây mê, và mổ dưới sự hỗ trợ của nội soi ổ bụng.
SPA surgery được thực hiện lần đầu tiên trong điều trị mổ cắt ruột thừa vào năm 1992 bởi Pelosi và cộng sự. (one trocar – one 10 mm laparoscope with a 5 mm working channel)
1997, Navarra mổ cắt túi mật bằng phương pháp này. (multiple fascial puntures)
2008, Romanelli; Rao cắt túi mật nội soi với (Tri-PortTM). Cuesta với (multiple fascial puntures –two 6mm trocars).
Cắt bán phần đại tràng bởi Remzi với (Uni-XTM) và Bucher với (One 12mm trocar-10mm laparoscope with a 6mm working channel) vào năm 2008.
Phẫu thuật dạ dày trong điều trị thừa cân bởi Saber, Reavis (multiple fascial puntures) năm 2008.
Điều trị béo phì với phương pháp (Ajustable gastric banding – One 15mm trocar → four 5mm trocars) bởi Nguyen , 2008.
Tán sỏi ngòai cơ thể (Extracorporeal shockwave lithotripsy -ESWL) là một kỹ thuật dđiều trị sỏi niệu ít xâm lấn áp dụng lần đầu tiên năm 1982 tại Khoa Niệu Trường Đại học Munich (Cộng Hòa Liên Bang Đức), từ đó phát triển tại các nước phát triển như là sự lựa chọn đầu tiên trong việc điều trị sỏi niệu vì những lợi ích to lớn của nó.
Phòng Đào tạo – Kế họach Tổng hợp bệnh viện Bình Dân trong chương trình Đào tạo liên tục đối với Cán bộ Y tế xin trân trọng thông báo chiêu sinh khóa 2 về các nội dung đào tạo phẫu thuật nội soi Tiết niệu:
Đặt vấn đề: Các bệnh nhân nữ trẻ tuổi đã tạo hình bàng quang bằng ruột có thể lấy chồng và có khả năng có thai. Vấn đề lo lắng của chúng tôi là sự phát triển của thai kỳ có ảnh hưởng đến bàng quang tân tạo không và khả năng chuyển dạ sinh con thế nào ?
Bệnh nhân: Bài viết này ghi nhận 2 trường hợp sản phụ đã được mở rộng bàng quang bằng ruột (MRBQBR) rồi đã có thai và sinh con.
Đặt vấn đề:Sỏi mật là một trong những bệnh đường tiêu hóa thường gặp trên thế giới, Sỏi ống mật chủ gặp nhiều ở các nước Đông Á. Bệnh thường diễn tiến thầm lặng, phần lớn là không có triệu chứng. Ở Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng sỏi mật cũng là một bệnh rất phổ biến. Tuy nhiên các nghiên cứu dịch tễ về bệnh sỏi mật còn chưa nhiều.