Lymphôm nguyên phát ngoài hạch thường gặp ở đường tiêu hóa; dạ dày và ruột non là vị trí thường gặp nhất. Đau bụng và sụt cân trong thời gian dài là triệu chứng thường gặp. Đa số bệnh nhân được phẫu thuật ở giai đoạn muộn. Chẩn đoán xác định trước mổ còn khó khăn. Trong nước chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh này.
Mục tiêu nghiên cứu nhằm nêu kinh nghiệm bước đầu trong chẩn đoán và xử trí lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa.
Sau khi hồi cứu 4 trường hợp lymphôm nguyên phát đường tiêu hóa ngoài hạch được điều trị tại khoa tiêu hóa bệnh viện Bình Dân trong 9 tháng đầu năm 2009 chúng tôi ghi nhận.
Đặt vấn đề: Ung thư tuyến tiền liệt là ung thư thường gặp đứng hàng thứ 2 ở Nam Giới. Tuy nhiên, việc tầm soát ung thư TLT và khảo sát các đặc điểm của bệnh vẫn chưa được thực hiện tại Việt Nam. Nghiên cứu của chúng tôi mô tả kết quả bước đầu của chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt tại bệnh viện Bình Dân, Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Thông qua các phương tiện truyền thông và bảng thông báo, chúng tôi chọn mẫu vào là các trường hợp tự nguyện đến tham gia chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt tại bệnh viện Bình Dân. Lứa tuổi lựa chọn là nam giới từ 50 tuổi trở lên. Các phương tiện tầm soát bao gồm: thông tin về dịch tễ, bệnh sử, khám trực tràng, siêm âm bụng, xét nghiệm PSA/máu, tỉ lệ PSA tự do/toàn bộ, siêu âm trực tràng và kết quả sinh thiết tiền liệt tuyến.
Tắc mật ngoài gan là hội chứng thường gặp do nhiều nguyên nhân khác nhau. Sự tắc nghẽn này có thể xảy ra bất kỳ trong 3 mức: Ống mật chủ đoạn trong tuỵ, trên tuỵ, cửa gan. Mục đích nghiên cứu nhằm khảo sát nguyên nhân và vị trí tắc mật ngoài gan qua hình ảnh Siêu âm, CT, ERCP.
Mục đích: Tính độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm trong chẩn đoán ung thư trên bướu giáp đa nhân.
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu bệnh chứng hồi cứu dựa trên giải phẫu bệnh sau mổ, chọn ngẫu nhiên 2 nhóm bướu giáp đa nhân lành và ác tính trong thời gian từ 2003 đến 2008 tại BV ĐHYD TPHCM.
Mục đích: Đánh giá kết quả bước đầu ứng dụng phương pháp can thiệp nội mạch trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý niệu khoa, thực hiện tại Bệnh viện Bình Dân từ 5/2008 đến 9/2009.
Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân được tiến hành theo một trình tự nhất định: Nằm ngửa, tiền mê nhẹ, đặt catheter qua động mạch đùi phải theo phương pháp Seldinger khảo sát DSA (X quang mạch máu kỹ thuật số xóa nền). Nếu có chỉ định can thiệp chúng tôi dùng vật liệu thuyên tắc là ethanol tuyệt đối, spongel tán nhuyễn, keo sinh học hoặc stent tùy vào thương tổn cần điều trị.
Đặt vấn đề: Các bệnh nhân nữ trẻ tuổi đã tạo hình bàng quang bằng ruột có thể lấy chồng và có khả năng có thai. Vấn đề lo lắng của chúng tôi là sự phát triển của thai kỳ có ảnh hưởng đến bàng quang tân tạo không và khả năng chuyển dạ sinh con thế nào ?
Bệnh nhân: Bài viết này ghi nhận 2 trường hợp sản phụ đã được mở rộng bàng quang bằng ruột (MRBQBR) rồi đã có thai và sinh con.
Phẫu thuật nội soi một vết mổ là phương pháp điều trị để lại sẹo nhỏ sau mổ. Trong bài viết này chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm ban đầu trong điệu trị cắt chóp nang và cắt thận tại BV Bình Dân. Phương pháp nghiên cứu: tiền cứu và phân tích. Từ tháng 9/2009 đến 10/2009 chúng tôi thực hiện 6 bệnh nhân bằng Phẫu thuật NS1VM, trong đó 2 trường hợp cắt thận, 4 trường hợp cắt chóp nang. Chúng tôi ghi nhận lại phương tiện chẩn đoán, diễn tiến trong khi mổ, và tình trạng đau, thuốc giảm đau sử dụng sau mổ.
Bệnh trĩ rất thường gặp, chủ yếu là ở người lớn tuổi. Đã có vài nghiên cứu đề cập đến vấn đề này nhưng phần lớn chỉ giới hạn trong điều trị và những nghiên cứu trong cộng đồng còn rất ít, nhất là tại TP.HCM. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của bệnh trĩ ở người ³ 50 tuổi- Kết quả khảo sát tại 24 quận huyện ở thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2006 đến tháng 07/2006” với mong muốn góp phần đưa ra một cái nhìn sơ bộ về bệnh trĩ trong cộng đồng người ³ 50 tuổi tại TP.HCM, xác định tỷ lệ hiện mắc bệnh trĩ trong cộng đồng, qua đó khảo sát các đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của bệnh trĩ.
Thuốc kháng đông uống lâu dài thường được dùng để phòng ngừa thuyên tắc mạch cho bệnh nhân rung nhĩ mãn tính, thay van tim cơ học, thuyên tắc động tĩnh mạch… Khi những bệnh nhân nầy cần phẫu thuật hay làm thủ thuật thường đối diện với 2 nguy cơ: thuyên tắc mạch khi dừng tạm thời thuốc kháng đông uống, và nguy cơ chảy máu liên quan đến dùng tiếp thuốc kháng đông và chính phẫu thuật, làm thế nào để có điều trị tốt nhất cho nhóm bệnh nhân nầy? Chưa có đồng thuận tối ưu điều tri bệnh nhân dùng kháng đông chu phẫu, cách tiếp cận tốt nhất là xem xét bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu hay chương trình?
Phẫu thuậtlấy sỏi qua da đã thành thường quytại Khoa-Phân môn Niệu bệnh viện Bình Dân. Trong bài viết này chúng tôi muốn giới thiệu kỹ thuật đường vào đài trên thận trong một số trường hợp lấy sỏi qua da cho sỏi thận phức tạp trong thời gian từ 6/2007 đến 5/2009
Vừa qua vào lúc 7g30 sáng ngày 15/01/2010 tại khoa cấp cứu BV Bình Dân có tiếp nhận một trường hợp bệnh nhân nam tên T.B.K 16 tuổi nhập viện trong tình trạng đau tức dữ dội và sưng nề bìu trái (bệnh nhân chỉ có tinh hoàn trái, tinh hoàn phải đã được cắt bỏ khi còn nhỏ)
Từ năm 2004, tại BV Bình Dân, chúng tôi đã ứng dụng phương pháp mổ nội soi cắt tuyến tiền liệt tận gốc. Chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm về kỹ thuật mổ nội soi ngoài phúc mạc, chẩn đoán lâm sàng, kết quả điều trị.
Quan điểm về mạc treo trực tràng và cắt toàn bộ mạc treo trực tràng là một quan điểm tiến bộ trong điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng. Tuy được quảng bá rộng trên toàn thế giới nhưng ít có báo cáo quan điểm căn bản. Qua bài tổng quan này, chúng tôi hy vọng phẫu thuật viên hiểu rõ hơn và thực hiện tốt quan điểm cắt toàn bộ mạc treo trực tràng khi cắt trước thấp và khi thực hiện phẫu thuật Miles nhằm giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ.
Bướu bàng quang là bướu ác thường gặp trên hệ niệu-sinh dục. Khi bướu đã xâm lấn đến và quá lớp cơ thành bàng quang thì thường phải cắt bỏ bàng quang để điều trị. Bướu nông (Ta, CIS, T1) là danh từ dùng để chỉ giai đoạn còn khu trú tại niệu mạc.
Có nhiều yếu tố có ý nghĩa dự hậu, còn gọi là yếu tố nguy cơ, có thể dùng để phân loại và đánh giá sự tiến triển của từng loại bướu. Những yếu tố nguy cơ thường được chú ý là: kích thước bướu, số lượng bướu, số lần tái phát trên một đơn vị thời gian, giai đoạn tiến triển, độ biệt hóa tế bào, và có hay không sự hiện diện của CIS.
Sáng nay, Hội nghị khoa học kỹ thuật được khai mạc long trọng tại Hội trường lớn BV Bình Dân.
Đến tham dự hội nghị có Giám đốc sở Y Tế Thành phố Hồ Chí Minh, GS Nguyễn Đình Hối, GS Dương Quang Trung cung các Giáo sư, Tiến sĩ, các Bác sĩ đến từ nhiều miền của đất nước
Ngày mai, 8/1/2010, Bệnh viện Bình Dân sẽ tổ chức hội Nghị Khoa học Kỹ thuật toàn bệnh viện. Hội nghị này được tổ chức định kỳ 2 năm một lần. Với rất nhiều đề tài hay về các lãnh vực Ngọai khoa - Niệu khoa, các tác giả sẽ trình bày những điều tâm huyết và những gì nghiên cứu của mình đến các đồng nghiệp trong và ngoài nước.
Trong Phiên báo cáo về Niệu khoa buổi chiều, các báo cáo viên sẽ trình bày và thảo luận bằng Anh ngữ. Bệnh viện Bình Dân đang từng ngày từng giờ tiến bộ và hòa nhập với Thế giới và các nước trong khu vực.
CHƯƠNG TRÌNH ( Post date: 03.12.2009, 04:22 pm GMT7 )
HỘI TRƯỜNG CHUNG
7:30 - 8:00Tiếp đón đại biểu
8:00 - 8:10Giới thiệu đại biểu
8:10 - 8:15 Diễn văn khai mạc của BS Giám Đốc bệnh viện Bình Dân
8:15 - 8:25Diễn văn của BS Giám Đốc sở Y Tế TP HCM